Bạn đang ở trang: HomeNghiên cứuNghiên cứu của các tác giả khác
Nghiên cứu của các tác giả khác

Nghiên cứu của các tác giả khác (11)

Leopoldo G. Gebhard, Claudia V. Filomatori and Andrea V. Gamarnik

Abstract: Dengue virus (DENV) genome amplification is a process that involves the viral RNA, cellular and viral proteins, and a complex architecture of cellular membranes. The viral RNA is not a passive template during this process; it plays an active role providing RNA signals that act as promoters, enhancers and/or silencers of the replication process. RNA elements that modulate RNA replication were found at the 5' and 3' UTRs and within the viral coding sequence. The promoter for DENV RNA synthesis is a large stem loop structure located at the 5' end of the genome. This structure specifically interacts with the viral polymerase NS5 and promotes RNA synthesis at the 3' end of a circularized genome. The circular conformation of the viral genome is mediated by long range RNA-RNA interactions that span thousands of nucleotides. Recent studies have provided new information about the requirement of alternative, mutually exclusive, structures in the viral RNA, highlighting the idea that the viral genome is flexible and exists in different conformations. In this article, we describe elements in the promoter SLA and other RNA signals involved in NS5 polymerase binding and activity, and provide new ideas of how dynamic secondary and tertiary structures of the viral RNA participate in the viral life cycle. (Viruses 2011, 3, 1739-175)

Cao Minh Nga, Le Thi Kim Nhung, Nguyen Chi Cuong  * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 11 – Supplement of No 1 - 2007: 431 – 435

Background: Dengue Fever and Dengue Haemorrhagic Fever (DF/DHF) is a major global health problem, primarily of tropical and subtropical areas. Clinical diagnosis is based on criteria of WHO. Laboratory diagnosis is not applied.  Purpose: to detect and determine percentage of the anti-dengue IgM antibody on adult patients are diagnosed DF/DHF by clinical.

Method: descriptive and cross-sectional methods were used on 101 serum samples from patients at Thong nhat hospital from June 2006 to November 2006. MAC-ELISA (IgM antibody capture enzyme linked immunosorbent assay) was tested to detect the anti-dengue IgM antibody. 

Results: The majority of patients were detected in young (16-40 year olds). The positive anti-dengue IgM antibody is 62.38% in general. This percentage is higher in patiens with fever over 5 days and highest in group under 20 year olds patients – 73.91%

Conclusion: MAC-ELISA can be used in clinical surveillance for viral illness. It is useful for hospitalized adult patients and atypic clinical symptoms.

Free dowload full tex here

Tagged under

Mục tiêu: Xác định sự phù hợp giữa lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh sốt xuất huyết Dengue ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng 2, trong thời gian từ 01/06/2007 đến 01/06/2008.

Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu trên 1170 trường hợp bệnh nhi làm xét nghiệm NS1 Ag và đối chiếu với chẩn đoán xuất viện. Từ đó chúng tôi xác định sự phù hợp giữa lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh Sốt Xuất Huyết Dengue.

Kết quả: chỉ số Kappa = 0,7, cho thấy sự thống nhất đáng kể giữa kết quả lâm sàng và cận lâm sàng.

Kết luận: Chúng tôi nhận thấy xét nghiệm NS1 Ag có tính chính xác cao và chuyên biệt, xét nghiệm này giúp chúng ta chẩn đoán sớm hay loại trừ sớm bệnh Sốt Xuất Huyết.

Đặt vấn đề: Vấn đề chẩn đoán sốt xuất huyết trong thời kỳ đầu của bệnh là khó, lâm sàng chưa rõ ràng, đòi hỏi cận lâm sàng như Mac-ELISA, kỹ thuật RT-PCR (reverse transcription–polymerase chain reaction) sẽ chẩn đoán nhanh, nhạy và đặc hiệu SXH-D, phân loại vi-rút dengue. 

Mục tiêu nghiên cứu: Ứng dụng kỹ thuật RT-PCR phát hiện sớm và chính xác vi-rút dengue trong máu bệnh nhi sốt xuất huyết giúp bác sĩ lâm sàng xác định sớm SXH-D.

Phương pháp nghiên cứu: Đây là một nghiên cứu áp dụng kỷ thuật RT-PCR để xác định virus Dengue trong máu bệnh nhi đang bị bệnh sốt xuất huyết dengue trong vòng 3 ngày đầu tiên mắc bệnh. 30 ca trẻ bệnh Sốt xuất huyết Dengue đang nằm theo dõi điều trị trong bệnh viện Nhi đồng Cần thơ đã được chọn v ào nghiên cứu, năm 2006. Số liệu được phân tích bởi chương trình SPSS để đo lường xác xuất các biến số. 

Kết quả nghiên cứu: đã chỉ rõ Kỷ thuật RT-PCR có khả năng xác định 80% virus sốt xuất huyết trong vòng 3 ngày đầu mắc bệnh sốt xuất huyết. - RT-PCR có thể định rõ các typ virus DenI, DenII, DenIII tại Cần Thơ trong năm 2006. - RT-PCR có giá trị chẩn đoán nhanh và chính xác Virus Dengue trong sốt xuất huyết.

Kết luận: Kỹ thuật RT-PCR có khả năng xác định 80% virus sốt xuất huyết trong vòng 3 ngày đầu mắc bệnh sốt xuất huyết. Do đó có thể dùng phổ cập trên lâm sàng.

Phan Văn Bé Bảy, Hoàng Tiến Mỹ

Đặt vấn đề: Sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue là một trong những bệnh truyền nhiễm quan trọng nhất tại Việt Nam. Xét nghiệm ELISA phát hiện kháng nguyên NS1 của virút Dengue trong huyết thanh bệnh nhân giúp phát hiện nhiễm virút Dengue trong giai đoạn sớm.

Mục tiêu: Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm của xét nghiệm ELISA phát hiện kháng nguyên NS1 bằng kít Platelia™ Dengue NS1 Ag. 

Phương pháp: Tiền cứu, mô tả cắt ngang.

Kết quả: Độ nhạy của xét nghiệm ELISA bằng kít Platelia™ Dengue NS1 Ag là 94,90%, độ đặc hiệu là 100%, giá trị tiên đoán dương là 100% và giá trị tiên đoán âm là 94,44%.  Kết luận: Xét nghiệm ELISA phát hiện kháng nguyên NS1 của virút Dengue có thể ứng dụng rộng rãi để chẩn đoán sớm sốt Dengue/SXH Dengue.

Le Bich Lien, Nguyen Trong Lan * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 7 * Supplement of No 1: 169 - 175

A rapid immunochromatographic test for IgM and IgG antibodies to Dengue virus was evaluated by using hospital admission sera of 106 patients including 71 cases of DHF and 35 cases of other diseases. The reference laboratory diagnosis was based on the results of haemagglutination inhibition test (HI) or IgMantibody-captured-enzyme-linked-immunosorbent assay (MAC-ELISA) or virus isolation. The rapid test demonstrated sensitivity of 76% and specificity of 95%. The positive predictive value (PPV) and negative predictive value (NPV) were 96.5% and 66%, respectively. In comparison with MAC-ELISA and HI tests, rapid test showed a fair agreement in the DHF diagnosis capability with k coefficient of 0.44 and 0.57, respectively. On the other hand, the rapid test allowed to distinguish between primary and secondary infection based on appearance of unique IgM strip or IgG strip (with or without IgM strip). 100% patients with primary Dengue virus infection and 86% patients with secondary Dengue virus infection were correctly classified. Predicted values are of 50% for primary Dengue virus infection and of 100% for secondary Dengue virus infection. Furthermore, the rapid test can help physicians to earlier diagnose DHF in acute phase of the disease: more than 65% of DHF cases on day 4 and about 90% of DHF cases on day 5 may be detected by this test.

Free dowload full tex here

Tagged under

Nguyen Thanh Hung, Nguyen Trong Lan, Huan-Yao Lei, Yee-Shin Lin, Le Bich Lien, Kao-Jean Huang, Ño Quang Ha, Vu Thi Que Huong, Lam Thi My *

Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 7 * Supplement of No 1: 145 - 152

Serum concentrations of six cytokines (interferon gamma (IFNγ ), tumor necrosis factor alpha (TNFα ), interleukin 10 (IL-10), IL-6, IL-4, and IL-2) were investigated in 62 infants with DHF/Dengue shock syndrome (DSS). Significantly elevated IFNγ , TNFα , IL-10, and IL-6 levels were detected in DHF/DSS infants in the acute phase of the disease, whereas, there was not any significant elevation in the concentrations of IL-4 and IL-2 in these patients. Serum IL-6 levels strongly correlated with prothrombin time (PT) (r=0.87, P=0.001), but not correlated with activated partial thromboplastin time (APTT) or fibrinogen levels (r=0.53, P=0.1, and r=0.45, P=0.1, respectively), nor with serum levels of transaminases, meanwhile, serum IL-10 levels strongly correlated with serum levels of aspartate aminotransaminase (AST) and alanine aminotransaminase (ALT) (r=0.91, P=0.000, and r=0.91, P=0.000, respectively), but not related with PT, APTT, and fibrinogen levels. These data demonstrate that overproduction of cytokines (IFNγ , TNFα , IL-10, and IL-6) may play a role in the pathogenesis of DHF/DSS in infants.

Free dowload full tex here

Tagged under

Lam Thi My, Nguyen Minh Tien * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 10 – Supplement of No 1 - 2006: 143 – 151 

In a descriptive prospective cross-sectional study, there were 182 children with prolonged Dengue shock syndrome (DSS) admitted at ICU of children’s hospital No.1 from April 2003 till April 2005, confirmed by positive serum ELISA IgM antibody, including 145 ones with DSS grade III and 37 ones with DSS grade IV. Average age was 7.8 year old, almost 5-12 year old (78%), infant 6%, obesity 7.1%. All of them were in shock (100%), respiratory failure (86.3%) where suspected acute respiratory distress syndrome (22%) with findings of PaO2/FiO2 ≤ 200, interstitial infiltrate in two lung in chest X-ray, average CVP: 8.9 ± 1.5 cmH2O. Liver injuries were 13.7%, hepatic failure 14.8%. Gastro-intestinal (GI) bleeding accounted for 45.1% where 14.3% needed blood transfusion of more than 20ml/kg/24hrs. According to modified Wilkinson criteria for MODS, dysfunction of hematological system was commonest (70.3%), secondly respiratory system (22%), GI tract (14.3%), neurologic system (2.2%), circulatory system (1.6%), no renal or hepatic failure. Multiple organ dysfunction syndrome (MODS) happened to 43 children, accounting for 23.5%. Overall mortality due to MODS was 23.3% (10/43).  Understanding of MODS helps physician with not only good shock resuscitation but also with timely management of severe complication of DSS, saving life of patients.

Free dowload full tex here

SUMMARY LIVER INJURY IN THE FATAL CASES OF DENGUE HAEMORRHAGIC FEVER IN CHILDREN

Phan Huu Nguyet Diem * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 8 * Supplement of No 1 * 2004: 132 – 137

We studied 24 fatal cases of dengue haemorrhagic fever (DHF), confirmed by MAC-ELISA or HI. Levels of aspartate amino- transferase(AST), alanine- amino- transferase (ALT) were significantly elevated,the mean value of AST:1521U/l, ALT: 911U/l.,50%. levels of AST and ALT were 10 fold greater than the normal limit. Neurological manifestations is about 54,2% of fatal cases. Jaundice is 12.5%. Liver biopsies of 15 patients showed three basic types of lesion wich are: apoptosis(93%), necrosis(86%) microvesicular steatosis (80%),. The others features are: congestive, hemorrhagic, lymphcytic infiltration. We suggest that dengue virus may cause hepatic injury, transaminase elevation similar to that in patients with viral hepatitis.The hepatocyte may be target cells supporting virus replication. 

Free dowload here

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ DIỄN TIẾN ĐIỀU TRỊ BỆNH SỐC SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE Ở NGƯỜI LỚN 

Đoàn Văn Lâm*, Đinh Thế Trung*

TÓM TẮT

Mở đầu: Vài năm gần đây, bệnh sốc sốt xuất huyết Dengue (SXH-D) ở người lớn gặp nhiều hơn, điều trị cũng phức tạp hơn. Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu được tiến hành trên nhóm bệnh nhân này. 

Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và diễn tiến điều trị; đồng thời so sánh sự khác biệt giữa hai nhóm có tái sốc và không tái sốc ở bệnh nhân người lớn sốc SXH-D.

Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế mô tả hồi cứu. Bệnh nhân được chẩn đoán xác định sốc SXH-D nhập vào Khoa Hồi Sức Cấp Cứu Người Lớn (HSCCNL), Bệnh Viện Bệnh Nhiệt Đới (BVBNĐ) từ tháng 06/2010 đến tháng 06/2011.

Kết quả: Chúng tôi chọn được 76 trường hợp sốc SXH-D đủ tiêu chuẩn cho nghiên cứu này. Bệnh xảy ra chủ yếu ở người trẻ, ≤ 30 tuổi. Tỷ lệ tái sốc cao hơn trước đây (27,6%), và thường xảy ra sau giờ 12. Các biến chứng nặng khác kèm theo trong 25% bệnh nhân, nhiều nhất là xuất huyết nặng (13,2%) và suy hô hấp (10,5%). Tiểu cầu thường giảm nặng ( < 20 G/L) và rối loạn đông máu huyết tương thường gặp nhất là APTT kéo dài và fibrinogen giảm, trong khi PT ít thay đổi. Men gan tăng trong tất cả các trường hợp, đa số tăng mức độ nhẹ và trung bình. So với nhóm bệnh nhân không tái sốc, nhóm bệnh nhân tái sốc có: ngày vào sốc sớm hơn, DTHC khi vào sốc tăng cao hơn, xét nghiệm đông máu (PT, APTT và fibrinogen) thay đổi nặng hơn, men gan tăng cao hơn, protein và albumin giảm thấp hơn (tất cả p <0,05). Tổng lượng dịch trung bình là 88 ml/kg, tỷ lệ sử dụng cao phân tử cao hơn các nghiên cứu trước đây (39,5%).

Kết luận: Bệnh cảnh sốc SXH-D ở người lớn trong những năm gần đây có vẻ nặng hơn so với nhiều năm trước đây. Cần có những nghiên cứu sâu hơn trên nhóm bệnh nhân này, đặc biệt là các yếu tố tiên lượng bệnh nặng và vấn đề điều trị dịch truyền chống sốc.

Từ khóa: Sốt xuất huyết Dengue, sốc sốt xuất huyết Dengue, người lớn

Mẹo vặt cuộc sống

Đọc tiếp

Tư vấn

Social Connect

demo

Bệnh trẻ em