Thuốc gây tê – đôi điều cần lưu ý.

Thuốc gây tê là thuốc có khả năng ức chế có hồi phục sự phát sinh và dẫn truyền xung động thần kinh từ ngoại vi về trung ương, làm mất cảm giác ( cảm giác đau, nóng, lạnh...) của một vùng cơ thể nơi đưa thuốc; sử dụng liều cao thuốc ức chế cả chức năng vận động.


Nǎm 1905, thuốc gây tê tổng hợp đầu tiên có tên là procain bắt đầu được sử dụng và trở thành thuốc đầu tiên của nhóm thuốc này. Cho đến nay, có nhiều hóa chất được dùng làm thuốc gây tê tại chỗ sử dụng trên lâm sàng.

1.    Thuốc gây tê tác dụng như thế nào?

      Quá trình xâm nhập của thuốc tê vào tế bào thần kinh để tạo ra tác dụng thường phải trải qua 4 giai đoạn sau:

    Khuếch tán vào mô: mức độ và tốc độ khuếch tán phụ thuộc vào tính chất lý hóa của từng thuốc.

   Thủy phân trong dịch gian bào: trong lâm sàng, thuốc tê thường được dùng dưới dạng muối dễ tan, dạng này không qua màng tế bào ngay được. Dưới ảnh hưởng của môi trường kiềm nhẹ trong dịch gian bào, thuốc thủy phân tạo ra dạng base tự do, tan được trong lipid, dễ dàng qua được màng tế bào.

  Xâm nhập vào tế bào thần kinh.

  Phát huy tác dụng: khi xâm nhập vào tế bào thần kinh, do tính phân cực nên thuốc gây tê sẽ gắn vào thành phần tương ứng của tế bào thần kinh, làm ổn định màng nên có tác dụng giảm đau.

      Toàn bộ thuốc gây tê tại chỗ ức chế ngược dẫn truyền thần kinh bằng cách làm giảm tính thấm Na+ ở màng tế bào thần kinh. Từ đó làm giảm tốc độ khử cực màng, vì thế làm tǎng ngưỡng kích thích điện. Toàn bộ các sợi thần kinh bị ảnh hưởng theo một trình tự cụ thể: trung tâm tự động, cảm giác, vận động. Các tác dụng này giảm theo trình tự đảo ngược.

2.    Sử dụng thuốc gây tê như thế nào?

    Thuốc gây tê tại chỗ dùng để giảm đau, hạ nhiệt, giảm xúc giác và trương lực cơ xương. Mức độ tác dụng tùy theo liều và nồng độ thuốc, mức độ kỵ nước và tính toàn vẹn tại nơi tiêm. Ở liều thấp, thuốc chỉ có tác dụng giảm đau mà không làm mất các cảm giác khác; ở liều điều trị và liều cao ngoài giảm đau thuốc còn có các tác dụng làm mất các cảm giác khác, ức chế dẫn truyền vận động và có thể ảnh hưởng đến các cơ quan khác như tim mạch, hô hấp.

    Có ba cách gây tê chủ yếu:

    Gây tê bề mặt: là gây tê phong bế ngọn sợi thần kinh bằng cách bôi hoặc ngấm thuốc lên bề mặt da hoặc niêm mạc. Phương pháp này thường dùng khi viêm họng, viêm miệng, chuẩn bị nội soi hay đặt nội khí quản.

   Gây tê tiêm ngấm: là tiêm thuốc gây tê vào dưới da để thuốc ngấm vào thần kinh. Phương pháp này thường dùng khi nhổ răng, trích mụn nhọt, áp xe...

   Gây tê dẫn truyền: tiêm thuốc vào cạnh đường dẫn truyền thần kinh hay mô thần kinh như gây tê thân thần kinh, gây tê phong bế hạch, gây tê đám rối thần kinh, gây tê ngoài màng cứng, trong màng cứng, màng nhện và tủy sống.

       Vì cơ chế tác dụng tương tự nhau, nên thuốc gây tê tại chỗ được lựa chọn dựa trên các đặc điểm dược động học và dược lực học của chúng. Lý tưởng là thuốc có độc tính toàn thân thấp, bắt đầu tác dụng nhanh, thời gian tác dụng đủ dài để hoàn thành thủ thuật theo dự định và không gây kích thích mô.

3.     Một số loại thuốc gây tê chủ yếu hay được sử dụng.

    Thuốc gây tê tại chỗ được xếp loại theo nhóm hóa chất cơ bản của chúng, chia làm ba nhóm chính:

    Nhóm thuốc gây tê có cấu trúc Este:  điển hình là procain (novocain), và các chế phẩm khác như: benzocain, butamben picrat, chloroprocain, cocain, proparacain và tetracain. Các thuốc này là dẫn xuất của acid paraaminobenzoic và bị thủy phân bởi esteraza huyết tương. Nhóm thuốc này ít có tác dụng gây tê bề mặt do ít thấm qua niêm mạc, chủ yếu dùng gây tê sâu, gây tê tiêm thấm và thường phải phối hợp với chất co mạch để kéo dài tác dụng gây tê. Ngoài ra thuốc còn có tác dụng giảm dẫn truyền thần kinh cơ, liều cao gây liệt cơ; làm chậm nhịp tim, hạ huyết áp. Do đó khi dùng thuốc cần lưu ý, thuốc có thể gây hạ huyết áp đột ngột, nhức đầu, chuột rút, co giật, dị ứng thuốc.

     Nhóm thuốc gây tê có cấu trúc amit: điển hình là lidocain, và các chế phẩm khác như bupivacain, dibucain, etidocain, mepivacain, prilocain và ropivacain. Lidocain gây giãn mạch nơi tiêm, nên thường phối hợp với chất co mạch để giảm hấp thu thuốc. Thuốc vừa có tác dụng gây tê bề mặt, vừa có tác dụng khi gây tê sâu. Tác dụng nhanh, mạnh và kéo dài hơn novocain, ngoài ra còn có tác dụng chống loạn nhịp tim. Tuy  nhiên khi dùng tại chỗ thuốc có thể gây viêm tắc tĩnh mạch, viêm màng nhện, sốc phản vệ; khi dùng chống loạn nhịp có thể gây hạ huyết áp, co giật, chậm nhịp tim; quá liều gây trụy tim mạch, rung tâm thất, rối loạn nhịp hoặc ngừng tim, ngừng hô hấp gây tử vong.

     Các thuốc gây tê có cấu trúc khác như Pramoxin ( cấu trúc ether ), Dibucain ( dẫn xuất quinolin ).. các thuốc này chủ yếu dùng để gây tê bề mặt.

     Cần chú ý sự hấp thu toàn thân của các thuốc gây tê tại chỗ có thể làm tǎng nồng độ thuốc trong huyết thanh, dẫn tới gây độc cho hệ tim mạch hoặc thần kinh trung ương. Thuốc càng tác dụng kéo dài thì khả nǎng gây độc càng cao, bao gồm hủy thần kinh với biểu hiện tróc da, hoại tử mô xung quanh. Phản ứng quá mẫn tại chỗ dễ xảy ra hơn với thuốc tê tại chỗ dạng ester.

 

 

Last modified on Monday, 10 October 2016 15:27
Rate this item
(0 votes)
FacebookTwitterLinkedinRSS Feed

Câu hỏi offline

2993207
Today
Yesterday
This Week
Last Week
This Month
Last Month
All days
1518
2420
1518
2973953
54425
77539
2993207

Your IP: 54.158.238.108
Server Time: 2017-10-22 07:47:12