Bạn đang ở trang: Homesốt xuất huyết

Aedes aegypti là vector của một số arboviruses khác nhau như bệnh sốt xuất huyết, Chikungunya, virus sốt vàng da, và một số  khác, bao gồm cả các bệnh mới có thể xuất hiện trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Loài này thường sinh sống xung quanh hoặc bên trong nhà  ở.

Mục tiêu: Xác định sự phù hợp giữa lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh sốt xuất huyết Dengue ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng 2, trong thời gian từ 01/06/2007 đến 01/06/2008.

Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu trên 1170 trường hợp bệnh nhi làm xét nghiệm NS1 Ag và đối chiếu với chẩn đoán xuất viện. Từ đó chúng tôi xác định sự phù hợp giữa lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh Sốt Xuất Huyết Dengue.

Kết quả: chỉ số Kappa = 0,7, cho thấy sự thống nhất đáng kể giữa kết quả lâm sàng và cận lâm sàng.

Kết luận: Chúng tôi nhận thấy xét nghiệm NS1 Ag có tính chính xác cao và chuyên biệt, xét nghiệm này giúp chúng ta chẩn đoán sớm hay loại trừ sớm bệnh Sốt Xuất Huyết.

Đặt vấn đề: Vấn đề chẩn đoán sốt xuất huyết trong thời kỳ đầu của bệnh là khó, lâm sàng chưa rõ ràng, đòi hỏi cận lâm sàng như Mac-ELISA, kỹ thuật RT-PCR (reverse transcription–polymerase chain reaction) sẽ chẩn đoán nhanh, nhạy và đặc hiệu SXH-D, phân loại vi-rút dengue. 

Mục tiêu nghiên cứu: Ứng dụng kỹ thuật RT-PCR phát hiện sớm và chính xác vi-rút dengue trong máu bệnh nhi sốt xuất huyết giúp bác sĩ lâm sàng xác định sớm SXH-D.

Phương pháp nghiên cứu: Đây là một nghiên cứu áp dụng kỷ thuật RT-PCR để xác định virus Dengue trong máu bệnh nhi đang bị bệnh sốt xuất huyết dengue trong vòng 3 ngày đầu tiên mắc bệnh. 30 ca trẻ bệnh Sốt xuất huyết Dengue đang nằm theo dõi điều trị trong bệnh viện Nhi đồng Cần thơ đã được chọn v ào nghiên cứu, năm 2006. Số liệu được phân tích bởi chương trình SPSS để đo lường xác xuất các biến số. 

Kết quả nghiên cứu: đã chỉ rõ Kỷ thuật RT-PCR có khả năng xác định 80% virus sốt xuất huyết trong vòng 3 ngày đầu mắc bệnh sốt xuất huyết. - RT-PCR có thể định rõ các typ virus DenI, DenII, DenIII tại Cần Thơ trong năm 2006. - RT-PCR có giá trị chẩn đoán nhanh và chính xác Virus Dengue trong sốt xuất huyết.

Kết luận: Kỹ thuật RT-PCR có khả năng xác định 80% virus sốt xuất huyết trong vòng 3 ngày đầu mắc bệnh sốt xuất huyết. Do đó có thể dùng phổ cập trên lâm sàng.

Phan Văn Bé Bảy, Hoàng Tiến Mỹ

Đặt vấn đề: Sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue là một trong những bệnh truyền nhiễm quan trọng nhất tại Việt Nam. Xét nghiệm ELISA phát hiện kháng nguyên NS1 của virút Dengue trong huyết thanh bệnh nhân giúp phát hiện nhiễm virút Dengue trong giai đoạn sớm.

Mục tiêu: Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm của xét nghiệm ELISA phát hiện kháng nguyên NS1 bằng kít Platelia™ Dengue NS1 Ag. 

Phương pháp: Tiền cứu, mô tả cắt ngang.

Kết quả: Độ nhạy của xét nghiệm ELISA bằng kít Platelia™ Dengue NS1 Ag là 94,90%, độ đặc hiệu là 100%, giá trị tiên đoán dương là 100% và giá trị tiên đoán âm là 94,44%.  Kết luận: Xét nghiệm ELISA phát hiện kháng nguyên NS1 của virút Dengue có thể ứng dụng rộng rãi để chẩn đoán sớm sốt Dengue/SXH Dengue.

Lam Thi My, Nguyen Minh Tien * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 10 – Supplement of No 1 - 2006: 143 – 151 

In a descriptive prospective cross-sectional study, there were 182 children with prolonged Dengue shock syndrome (DSS) admitted at ICU of children’s hospital No.1 from April 2003 till April 2005, confirmed by positive serum ELISA IgM antibody, including 145 ones with DSS grade III and 37 ones with DSS grade IV. Average age was 7.8 year old, almost 5-12 year old (78%), infant 6%, obesity 7.1%. All of them were in shock (100%), respiratory failure (86.3%) where suspected acute respiratory distress syndrome (22%) with findings of PaO2/FiO2 ≤ 200, interstitial infiltrate in two lung in chest X-ray, average CVP: 8.9 ± 1.5 cmH2O. Liver injuries were 13.7%, hepatic failure 14.8%. Gastro-intestinal (GI) bleeding accounted for 45.1% where 14.3% needed blood transfusion of more than 20ml/kg/24hrs. According to modified Wilkinson criteria for MODS, dysfunction of hematological system was commonest (70.3%), secondly respiratory system (22%), GI tract (14.3%), neurologic system (2.2%), circulatory system (1.6%), no renal or hepatic failure. Multiple organ dysfunction syndrome (MODS) happened to 43 children, accounting for 23.5%. Overall mortality due to MODS was 23.3% (10/43).  Understanding of MODS helps physician with not only good shock resuscitation but also with timely management of severe complication of DSS, saving life of patients.

Free dowload full tex here

Mẹo vặt cuộc sống

Đọc tiếp

Tư vấn

Bệnh trẻ em