Bạn đang ở trang: HomeDengue

Background: This study aims to estimate the age-specific risks of clinical dengue attack (i.e., the risk of symptomatic dengue among the total number of dengue virus (DENV) infections) during primary and secondary infections.

Dengue virus is an important human pathogen that belongs to the Flaviviridae family. The viral genome is a single molecule of RNA of positive polarity that plays multiple roles during the viral life cycle. Besides encoding the viral proteins, the genome contains RNA structures that regulate different viral processes.

Aedes aegypti là vector của một số arboviruses khác nhau như bệnh sốt xuất huyết, Chikungunya, virus sốt vàng da, và một số  khác, bao gồm cả các bệnh mới có thể xuất hiện trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Loài này thường sinh sống xung quanh hoặc bên trong nhà  ở.

Cao Minh Nga, Le Thi Kim Nhung, Nguyen Chi Cuong  * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 11 – Supplement of No 1 - 2007: 431 – 435

Background: Dengue Fever and Dengue Haemorrhagic Fever (DF/DHF) is a major global health problem, primarily of tropical and subtropical areas. Clinical diagnosis is based on criteria of WHO. Laboratory diagnosis is not applied.  Purpose: to detect and determine percentage of the anti-dengue IgM antibody on adult patients are diagnosed DF/DHF by clinical.

Method: descriptive and cross-sectional methods were used on 101 serum samples from patients at Thong nhat hospital from June 2006 to November 2006. MAC-ELISA (IgM antibody capture enzyme linked immunosorbent assay) was tested to detect the anti-dengue IgM antibody. 

Results: The majority of patients were detected in young (16-40 year olds). The positive anti-dengue IgM antibody is 62.38% in general. This percentage is higher in patiens with fever over 5 days and highest in group under 20 year olds patients – 73.91%

Conclusion: MAC-ELISA can be used in clinical surveillance for viral illness. It is useful for hospitalized adult patients and atypic clinical symptoms.

Free dowload full tex here

Mục tiêu: Xác định sự phù hợp giữa lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh sốt xuất huyết Dengue ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng 2, trong thời gian từ 01/06/2007 đến 01/06/2008.

Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu trên 1170 trường hợp bệnh nhi làm xét nghiệm NS1 Ag và đối chiếu với chẩn đoán xuất viện. Từ đó chúng tôi xác định sự phù hợp giữa lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh Sốt Xuất Huyết Dengue.

Kết quả: chỉ số Kappa = 0,7, cho thấy sự thống nhất đáng kể giữa kết quả lâm sàng và cận lâm sàng.

Kết luận: Chúng tôi nhận thấy xét nghiệm NS1 Ag có tính chính xác cao và chuyên biệt, xét nghiệm này giúp chúng ta chẩn đoán sớm hay loại trừ sớm bệnh Sốt Xuất Huyết.

Đặt vấn đề: Vấn đề chẩn đoán sốt xuất huyết trong thời kỳ đầu của bệnh là khó, lâm sàng chưa rõ ràng, đòi hỏi cận lâm sàng như Mac-ELISA, kỹ thuật RT-PCR (reverse transcription–polymerase chain reaction) sẽ chẩn đoán nhanh, nhạy và đặc hiệu SXH-D, phân loại vi-rút dengue. 

Mục tiêu nghiên cứu: Ứng dụng kỹ thuật RT-PCR phát hiện sớm và chính xác vi-rút dengue trong máu bệnh nhi sốt xuất huyết giúp bác sĩ lâm sàng xác định sớm SXH-D.

Phương pháp nghiên cứu: Đây là một nghiên cứu áp dụng kỷ thuật RT-PCR để xác định virus Dengue trong máu bệnh nhi đang bị bệnh sốt xuất huyết dengue trong vòng 3 ngày đầu tiên mắc bệnh. 30 ca trẻ bệnh Sốt xuất huyết Dengue đang nằm theo dõi điều trị trong bệnh viện Nhi đồng Cần thơ đã được chọn v ào nghiên cứu, năm 2006. Số liệu được phân tích bởi chương trình SPSS để đo lường xác xuất các biến số. 

Kết quả nghiên cứu: đã chỉ rõ Kỷ thuật RT-PCR có khả năng xác định 80% virus sốt xuất huyết trong vòng 3 ngày đầu mắc bệnh sốt xuất huyết. - RT-PCR có thể định rõ các typ virus DenI, DenII, DenIII tại Cần Thơ trong năm 2006. - RT-PCR có giá trị chẩn đoán nhanh và chính xác Virus Dengue trong sốt xuất huyết.

Kết luận: Kỹ thuật RT-PCR có khả năng xác định 80% virus sốt xuất huyết trong vòng 3 ngày đầu mắc bệnh sốt xuất huyết. Do đó có thể dùng phổ cập trên lâm sàng.

Phan Văn Bé Bảy, Hoàng Tiến Mỹ

Đặt vấn đề: Sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue là một trong những bệnh truyền nhiễm quan trọng nhất tại Việt Nam. Xét nghiệm ELISA phát hiện kháng nguyên NS1 của virút Dengue trong huyết thanh bệnh nhân giúp phát hiện nhiễm virút Dengue trong giai đoạn sớm.

Mục tiêu: Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm của xét nghiệm ELISA phát hiện kháng nguyên NS1 bằng kít Platelia™ Dengue NS1 Ag. 

Phương pháp: Tiền cứu, mô tả cắt ngang.

Kết quả: Độ nhạy của xét nghiệm ELISA bằng kít Platelia™ Dengue NS1 Ag là 94,90%, độ đặc hiệu là 100%, giá trị tiên đoán dương là 100% và giá trị tiên đoán âm là 94,44%.  Kết luận: Xét nghiệm ELISA phát hiện kháng nguyên NS1 của virút Dengue có thể ứng dụng rộng rãi để chẩn đoán sớm sốt Dengue/SXH Dengue.

Le Bich Lien, Nguyen Trong Lan * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 7 * Supplement of No 1: 169 - 175

A rapid immunochromatographic test for IgM and IgG antibodies to Dengue virus was evaluated by using hospital admission sera of 106 patients including 71 cases of DHF and 35 cases of other diseases. The reference laboratory diagnosis was based on the results of haemagglutination inhibition test (HI) or IgMantibody-captured-enzyme-linked-immunosorbent assay (MAC-ELISA) or virus isolation. The rapid test demonstrated sensitivity of 76% and specificity of 95%. The positive predictive value (PPV) and negative predictive value (NPV) were 96.5% and 66%, respectively. In comparison with MAC-ELISA and HI tests, rapid test showed a fair agreement in the DHF diagnosis capability with k coefficient of 0.44 and 0.57, respectively. On the other hand, the rapid test allowed to distinguish between primary and secondary infection based on appearance of unique IgM strip or IgG strip (with or without IgM strip). 100% patients with primary Dengue virus infection and 86% patients with secondary Dengue virus infection were correctly classified. Predicted values are of 50% for primary Dengue virus infection and of 100% for secondary Dengue virus infection. Furthermore, the rapid test can help physicians to earlier diagnose DHF in acute phase of the disease: more than 65% of DHF cases on day 4 and about 90% of DHF cases on day 5 may be detected by this test.

Free dowload full tex here

Nguyen Thanh Hung, Nguyen Trong Lan, Huan-Yao Lei, Yee-Shin Lin, Le Bich Lien, Kao-Jean Huang, Ño Quang Ha, Vu Thi Que Huong, Lam Thi My *

Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 7 * Supplement of No 1: 145 - 152

Serum concentrations of six cytokines (interferon gamma (IFNγ ), tumor necrosis factor alpha (TNFα ), interleukin 10 (IL-10), IL-6, IL-4, and IL-2) were investigated in 62 infants with DHF/Dengue shock syndrome (DSS). Significantly elevated IFNγ , TNFα , IL-10, and IL-6 levels were detected in DHF/DSS infants in the acute phase of the disease, whereas, there was not any significant elevation in the concentrations of IL-4 and IL-2 in these patients. Serum IL-6 levels strongly correlated with prothrombin time (PT) (r=0.87, P=0.001), but not correlated with activated partial thromboplastin time (APTT) or fibrinogen levels (r=0.53, P=0.1, and r=0.45, P=0.1, respectively), nor with serum levels of transaminases, meanwhile, serum IL-10 levels strongly correlated with serum levels of aspartate aminotransaminase (AST) and alanine aminotransaminase (ALT) (r=0.91, P=0.000, and r=0.91, P=0.000, respectively), but not related with PT, APTT, and fibrinogen levels. These data demonstrate that overproduction of cytokines (IFNγ , TNFα , IL-10, and IL-6) may play a role in the pathogenesis of DHF/DSS in infants.

Free dowload full tex here

Lam Thi My, Nguyen Minh Tien * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 10 – Supplement of No 1 - 2006: 143 – 151 

In a descriptive prospective cross-sectional study, there were 182 children with prolonged Dengue shock syndrome (DSS) admitted at ICU of children’s hospital No.1 from April 2003 till April 2005, confirmed by positive serum ELISA IgM antibody, including 145 ones with DSS grade III and 37 ones with DSS grade IV. Average age was 7.8 year old, almost 5-12 year old (78%), infant 6%, obesity 7.1%. All of them were in shock (100%), respiratory failure (86.3%) where suspected acute respiratory distress syndrome (22%) with findings of PaO2/FiO2 ≤ 200, interstitial infiltrate in two lung in chest X-ray, average CVP: 8.9 ± 1.5 cmH2O. Liver injuries were 13.7%, hepatic failure 14.8%. Gastro-intestinal (GI) bleeding accounted for 45.1% where 14.3% needed blood transfusion of more than 20ml/kg/24hrs. According to modified Wilkinson criteria for MODS, dysfunction of hematological system was commonest (70.3%), secondly respiratory system (22%), GI tract (14.3%), neurologic system (2.2%), circulatory system (1.6%), no renal or hepatic failure. Multiple organ dysfunction syndrome (MODS) happened to 43 children, accounting for 23.5%. Overall mortality due to MODS was 23.3% (10/43).  Understanding of MODS helps physician with not only good shock resuscitation but also with timely management of severe complication of DSS, saving life of patients.

Free dowload full tex here

Mẹo vặt cuộc sống

Đọc tiếp

Tư vấn

Bệnh trẻ em