Website benhhoctieuhoa.com

Là nơi chia sẻ, giải đáp các thắc mắc về bệnh lý đường tiêu hóa và một số bệnh lý thường gặp. Bên cạnh đó còn chia sẻ kinh nghiệm dùng thuốc, tài liệu kiến thức y khoa của các chuyên ngành cho các bạn đồng nghiệp.

Website còn là nơi giới thiệu những sản phẩm chăm sóc sức khỏe, những sản phẩm làm đẹp có uy tín do hệ thống Thuhien'shop phân phối.

Chế độ ăn cho trẻ em suy dinh dưỡng

Trẻ bị tiêu chảy dễ bị suy dinh dưỡng Trẻ bị tiêu chảy dễ bị suy dinh dưỡng

 Chế độ ăn cho trẻ em suy dinh dưỡng - Suy dinh dưỡng là tình trạng bệnh lý xảy ra khi cơ thể thiếu các chất dinh dưỡng, đặc biệt là thiếu protein và năng lượng. Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, hay gặp nhất là ở lứa tuổi từ 6 – 24 tháng.

 
Suy dinh dưỡng thường kèm theo tình trạng dễ nhiễm khuẩn và ngược lại nhiễm khuẩn làm cho suy dinh dưỡng nặng thêm.

Nguyên nhân gây suy dinh dưỡng

Chủ yếu là do bà mẹ thiếu kiến thức nuôi con trong đó đáng chú ý nguyên nhân hay gặp nhất là do cho ăn bổ sung quá sớm hoặc quá muộn; thức ăn sử dụng cho trẻ thường không đảm bảo chất lượng và số lượng theo lứa tuổi.

Bên cạnh đó, suy dinh dư­ỡng th­ường thấy sau các bệnh nhiễm khuẩn nh­ư sởi, viêm phổi, tiêu chảy... mà các bà mẹ không biết cách cho ăn khi trẻ ốm nên dễ bị suy dinh d­ưỡng.

Ngoài ra còn có các yếu tố thuận lợi dễ làm trẻ suy dinh dưỡng như: cân nặng lúc đẻ thấp <  2500 g; đẻ sinh đôi, gia đình đông con, mẹ chết hoặc ốm yếu, mẹ không có sữa hoặc ít sữa, dị tật bẩm sinh, nhà ở chật chội thiếu ánh sáng.

Biểu hiện của suy dinh dưỡng

Đơn giản nhất là dùng biểu đồ tăng trưởng đánh giá cân nặng của trẻ theo độ tuổi. Biểu đồ tăng trưởng được đính kèm trong sổ theo dõi sức khỏe trẻ em, cấp cho mỗi trẻ sau sinh và dùng đến 6 tuổi. Trẻ được xem là có nguy cơ suy dinh dưỡng nếu đứng cân liên tục trong vòng 3 tháng, đường phát triển cân nặng theo tuổi đi theo hướng nằm ngang. Trẻ suy dinh dưỡng nếu đường phát triển cân nặng theo tuổi nằm bên dưới đường chuẩn của biểu đồ.

Tuy nhiên để đánh giá dinh dưỡng toàn diện cần có ít nhất 3 chỉ số:

Cân nặng theo tuổi

Chiều cao theo tuổi

Cân nặng theo chiều cao

Các chỉ số này sẽ được so sánh với bảng đánh giá tình trạng dinh dưỡng NCHS được Tổ Chức Y Tế Thế Giới khuyến cáo áp dụng ở những nước đang phát triển.

Khi có một chỉ số chiều cao cân nặng hoặc cân nặng theo tuổi <-2SD là suy dinh dưỡng nhẹ, <-3SD là suy dinh dưỡng vừa, <-4SD là suy dinh dưỡng nặng

Suy dinh dưỡng bắt đầu từ biểu hiện chậm lớn cho đến các thể nặng là thể phù và thể teo đét. Trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu, việc nhận biết các thể nhẹ và vừa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Ở các thể nhẹ: biểu hiện lâm sàng thường nghèo nàn, chẩn đoán chủ yếu dựa vào các kích thước nhân trắc, như đã trình bày ở phần phân loại.

Thể phù (kwashiorkor): cân nặng còn 60 - 80% so với chuẩn mặc dù trẻ có phù. Trẻ phù từ chân rồi đến mắt và có thể phù to toàn thân. Trên da có thể xuất hiện những đám lấm chấm sắc tố màu nâu, sau đó bong ra, dễ bị trợt loét và bị nhiễm khuẩn. Trẻ thờ ơ với ngoại cảnh, hay quấy khóc, ăn kém, ỉa phân sống, lỏng, nhầy mỡ.

Thể gầy đét (marasmus): cân nặng còn < 60% so với chuẩn. Cơ thể gày đét chỉ còn da và xương và trẻ có bộ mặt giống ông già. Đây là thể hay gặp nhất. Đó là hậu quả của chế độ ăn thiếu cả nhiệt lượng và protein hoặc do cai sữa quá sớm, hoặc thức ăn bổ sung không hợp lý; hoặc do tình trạng vệ sinh kém gây tiêu chảy, trẻ ăn càng kém và vòng luẩn quẩn bệnh lý xảy ra. Tinh thần mệt mỏi, thờ ơ với ngoại cảnh, trẻ có thể thèm ăn hoặc chán ăn, hay bị rối loạn tiêu hoá, ỉa phân sống, lỏng.

Điều trị suy dinh dưỡng

Điều trị các tình trạng cấp : Mất nước hay phù toàn thân, rối loạn điện giải, suy tim cấp, nhiễm trùng, nhiễm ký sinh trùng...

Bổ sung các dưỡng chất quan trọng với liều điều trị : vitamin A, sắt, axit folic, đa sinh tố

Cho ăn càng sớm càng tốt và nhanh chóng nâng khẩu phần dinh dưỡng lên mức tối đa phù hợp với khả năng tiêu hoá hấp thu của trẻ, sử dụng các thực phẩm giàu năng lượng, các chế phẩm dinh dưỡng đặc biệt, nếu cần phải sử dụng thêm các loại men hỗ trợ tiêu hoá. Trong trường hợp rất nặng cần đặt vấn đề nuôi ăn bằng các phương tiện hỗ trợ như nuôi ăn qua sonde dạ dày, nuôi ăn bằng đường tĩnh mạch một phần…

Tăng năng lượng khẩu phần cho bữa ăn hàng ngày nếu trẻ không thể ăn đủ theo nhu cầu bằng cách :

Cho ăn nhiều món trong cùng một bữa để trẻ ăn đến no căng dạ dày

Tăng số lần ăn trong ngày nếu trẻ không thể ăn nhiều trong một lần.

Cho ăn càng đặc càng tốt, sử dụng các loại bột mộng để làm lỏng thức ăn đặc nhưng vẫn đảm bảo độ đậm đặc của thức ăn

Tăng thức ăn giàu năng lượng : thêm dầu mỡ vào thức ăn của trẻ, dùng các loại thực phẩm cao năng lượng

Cho ăn tăng cường sau bệnh : Tăng bữa, tăng thức ăn, cho trẻ ăn bất cứ thứ gì trẻ lựa chọn

Cho bú mẹ kéo dài sau 12 tháng

Tái khám thường xuyên để theo dõi sức khoẻ và mức độ phục hồi dinh dưỡng của trẻ

Biện pháp để phòng để phòng chống suy dinh dưỡng

Cho trẻ bú mẹ ngay sau sinh và kéo dài 18-24 tháng : Sữa mẹ luôn là thức ăn đầu đời hoàn hảo nhất cho trẻ sơ sinh và là thức ăn tốt, đựoc trẻ chấp nhận trong giai đọan sau. Sữa mẹ, ngoài cung  cấp chất dinh dưỡng còn cung cấp các yếu tố chống lại bệnh tật, bảo vệ trẻ khỏi các bệnh lý nhiễm trùng.

Chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ bằng bữa ăn hợp lý : Tập cho trẻ ăn dặm khi bắt đầu 4-6 tháng tuổi. Cho trẻ ăn đầy đủ 4 nhóm chất dinh dưỡng (bột đường, đạm, béo), không kiêng khem, và duy trì sữa mẹ trong thời gian dưới 2 tuổi. Nếu không có sữa mẹ đủ, lựa chọn loại sữa thay thế phù hợp.

Vệ sinh an toàn thực phẩm : Là vấn đề quan trọng hàng đầu trong việc bảo vệ trẻ tránh các bệnh nhiễm trùng đường ruột, giun sán... Chọn lựa thực phẩm tươi cho trẻ, tránh bảo quản dài ngày trừ trường hợp có tủ cấp đông đúng quy cách, hạn chế  cho trẻ dùng các thực phẩm chế biến sẵn, đóng hộp, nấu nướng thức ăn chín kỹ.

Theo dõi biểu đồ tăng trưởng cho trẻ hàng tháng : Nhằm phát hiện sớm tình trạng suy dinh dưỡng hoặc các nguy cơ nếu có và can thiệp sớm.

Ngừa và trị bệnh : Điều trị triệt để các bệnh lý nhiễm trùng hô hấp, tiêu chảy... không cần lạm dụng kháng sinh mà chỉ dùng KS đủ liều, đủ thời gian, chăm  sóc dinh duỡng tích cực trong thời gian bệnh và phục hồi dinh dưỡng sau thời gian bệnh.

Xổ giun định kỳ mỗi 6 tháng cho trẻ trên 2 tuổi.

 

Last modified on Wednesday, 06 April 2016 07:11
Rate this item
(0 votes)
FacebookTwitterLinkedinRSS Feed

Câu hỏi offline

000418
Today
Yesterday
This Week
Last Week
This Month
Last Month
All days
418
0
418
2794988
418
65958
418

Your IP: 54.144.50.90
Server Time: 2017-08-17 04:40:33