Bạn đang ở trang: HomeBệnh tiêu hóaBệnh gan mậtViêm túi mật cấp

Viêm túi mật cấp Featured

Biểu hiện viêm túi mật cấp Biểu hiện viêm túi mật cấp

  Viêm túi mật cấp là biến chứng thường gặp nhất của sỏi và giun đũa chui vào đường mật - túi mật, nhất là khi có tắc nghẽn ống mật quản. Trong nhóm bệnh lý này, thì bệnh viêm túi mật cấp là một cấp cứu về tiêu hóa, thường do sỏi mật gây nên.

Bệnh hay gặp ở nữ, tuổi thường gặp 40 – 60. Bệnh Viêm túi mật cấp cần được chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời để phòng những biến chứng có thể dẫn tới tử vong.

  1. Tại sao chúng ta bị viêm túi mật cấp?

       Bình thường, trong cơ thể, gan sản xuất mật và chuyển xuống ống mật và dự trữ ở túi mật. Đến bữa ăn, túi mật co bóp và chuyển dịch mật trong túi mật vào tá tràng giúp tiêu hoá thức ăn. Khi có sỏi đường mật nhất là sỏi cổ túi mật hoặc giun chui đường mật sẽ gây tắc nghẽn đường mật, muối mật kích thích gây tổn thương thành túi mật,  lúc đó vi khuẩn sẽ xâm nhập vào trong túi mật và phát triển gây ra viêm túi mật cấp. Sự căng của túi mật gây ra thiếu máu kèm viêm nhiễm có thể gây hoại thư túi mật. Một số hiếm trường hợp viêm túi mật không do tắc nghẽn như do chấn thương bụng vùng túi mật, trong đái tháo đường, viêm nút quanh động mạch, nhiễm trùng huyết.

        Bệnh gây ra do vi khuẩn chiếm đến 50-85% trường hợp. Vi khuẩn thường gặp là E. coli, Klebsiella, Streptococcus nhóm D, Staphylococcus, và Clostridium.

  1. Biểu hiện của bệnh Viêm túi mật cấp như thế nào?

   Viêm túi mật cấp Thường khởi phát bởi cơn đau quặn gan, sau đó diễn tiến đưa đến nhiễm trùng và tắc mật. Có khoảng 60-70% bệnh nhân với cơn đau đầu tiên tự lui bệnh. Tuy nhiên những cơn đau kéo dài về sau sẽ đưa đến đau lan tỏa cả vùng hạ sườn phải, lan đến vùng bả vai phải, vai phải.

    Đau tăng khi ho và hít sâu, bệnh nhân thường nôn và chán ăn; Vàng da chỉ xuất hiện khi có viêm phù nề hoặc hạch chèn ép vào đường dẫn mật chính nên thường không có hoặc đến muộn.

    Khám vùng hạ sườn phải thường rất đau, túi mật to và đau trong khoảng 50% trường hợp, nghiệm pháp Murphy (+), có thể có dấu liệt ruột vùng hạ sườn phải.

   Xét nghiệm công thức máu: bạch cầu và bạch cầu đa nhân trung tính cao. Bilirubin máu bình thường, trong trường hợp bilirubin máu cao thì có kèm thêm tắc hoặc viêm đường mật chính.

    Siêu âm: là một chẩn đoán tốt nhạy và chính xác, giúp chẩn đoán viêm túi mật cấp với hình ảnh túi mật to. Ngoài ra siêu âm còn giúp chẩn đoán nguyên nhân như sỏi, giun và biến chứng như thủng, xuất tiết dịch quanh túi mật và trong ổ bụng, cũng như bệnh lý kèm theo của gan và tụy.

   CT scanner cũng cho những kết quả tương tự.

  1. Biến chứng do Viêm túi mật cấp

   Viêm mủ túi mật: viêm mủ thường xảy ra do diễn tiến của viêm túi mật cấp trong khi ống túi mật bị tắc nghẽn và bội nhiễm dịch mật bị ứ trệ rồi hóa mủ do vi khuẩn. Lâm sàng tương tự như viêm mật quản với sốt cao, đau dữ dội hạ sườn phải, bạch cầu tăng cao, nhiễm trùng nhiễm độc nặng; thường có nguy cơ nhiễm trùng huyết Gr(-) hoặc thủng túi mật. Cần phải được chẩn đoán kịp thời để được phẫu thuật và dùng kháng sinh thích hợp.

      Ứ nước túi mật hay nang nước là hậu quả của sự tắc nghẽn lâu ngày ống túi mật, thường là do sỏi lớn kẹt. Túi mật sẽ căng to có thể nhìn thấy được, không đau, mềm nhiều khi xuống tận hố chậu phải. Cần cắt bỏ để phòng viêm hoại thư hoặc thủng.

    Hoại thư và thủng: hoại thư là hậu quả của viêm và thiếu máu thành túi mật, thành túi mật sẽ dày ra, sau đó có vùng hoại tử hoặc hoại tử toàn bộ. Do những điều kiện thúc đẩy như quá căng, viêm tắc mạch máu, đái tháo đường, viêm mủ hoặc xoắn túi mật. Hoại thư thường là tiền đề cho thủng túi mật. Thủng khu trú thường là do áp xe túi mật.

  1. Điều trị Viêm túi mật cấp

Điều trị Viêm túi mật cấp bao gồm nội và ngoại khoa:

   Điều trị nội khoa Viêm túi mật cấp: Nghỉ ngơi, truyền dịch để nuôi dưỡng và cân bằng nước điện giải. Dùng các thuốc giảm đau, giãn cơ trơn như nospa hay sparmaverin. Kháng sinh, thường sử dụng các kháng sinh có phổ tác dụng trên vi khuẩn gram âm như  Quinolon thế hệ 2. Trong trường hợp bệnh nặng cần sử dụng phối hợp kháng sinh và dùng bằng đường tiêm, thường phối hợp thêm với cephalosporin thế hệ 3 như cefotaxim, ceftriazon hoặc cefuroxim. Ngoài ra cần chú ý đến nhiễm các vi khuẩn kị khí, do đó cần phối hợp thêm metronidazol hoặc clindamycin (Dalacin).

   Điều trị ngoại khoa Viêm túi mật cấp : Mổ cấp cứu: trong trường hợp không đáp ứng với điều trị nội khoa mà tình trạng nhiễm trùng nhiễm độc nặng hoặc có biến chứng ngoại khoa như túi mật hoại tử, thấm mật phúc mạc và viêm phúc mạc mật. Hiện nay thường mổ túi mật qua đường nội soi.

     Trong trường hợp viêm túi mật hoại tử cũng bắt đầu là viêm túi mật cấp do sỏi hoặc không nhưng sau đó do thiếu máu và hoại tử thành túi mật, do các vi khuẩn sinh hơi kị khí. Tử vong loại này thường cao hơn, do vậy trong những trường hợp này cần mổ sớm cho bệnh nhân và phối hợp với hồi sức kháng sinh thích hợp.

     Mổ phiên: thường sau một đợt điều trị nội khoa để ổn định nhiễm trùng, nhất là ở người già có bệnh tim mạch, đái tháo đường, để chuẩn bị bệnh nhân được tốt hơn.

Bên cạnh các dịch vụ khác, Trung tâm tư vấn, nghiên cứu và đào tạo của Tiến sỹ Nguyễn Bạch Đằng (Center for consultation, research and training of Dr. Nguyen Bach Dang - CRTD) còn cung cấp thêm dịch vụ tư vấn khám sức khỏe định kỳ qua điện thoại với số điện thoại hỗ trợ là 0901348669 do Tiến sỹ, Bác sỹ Nguyễn Bạch Đằng trực tiếp tư vấn. Chi tiết các bước xem tại đây.

benhhoctieuhoa.com

 

Last modified on Thứ sáu, 10 Tháng 4 2020 09:10
Rate this item
(0 votes)

Mẹo vặt cuộc sống

Đọc tiếp

Tư vấn

Bệnh trẻ em