Bạn đang ở trang: HomeBệnh tiêu hóaBệnh đại tràngBệnh do amip

Bệnh do amip Featured

Phòng bệnh do amíp cần ăn uống lành mạnh Phòng bệnh do amíp cần ăn uống lành mạnh

     Bệnh do amíp là bệnh do nhiễm đơn bào Entamoeba histolytica, với tổn thương đặc trưng là loét ở niêm mạc đại tràng và có khả năng gây ra các ổ áp xe ở các cơ quan khác nhất là gan và não. Bệnh có xu hướng kéo dài và mạn tính nếu không được điều trị tích cực.

       Amip là những nguyên sinh động vật, chỉ là một tế bào nhưng có khả năng di chuyển định hướng nhờ chân giả. Đa số các amip sống tự do ở môi trường bên ngoài, một số ít sống ký sinh. Trong ruột già của người có khoảng 6-7 loài amip sống ký sinh, trong đó Entamoeba histolytica là tác nhân gây bệnh quan trọng.

  1. Vài nét về amíp và bệnh do amíp gây ra.

       Đây là bệnh do nhiễm đơn bào Entamoeba histolytica, với tổn thương đặc trưng là loét ở niêm mạc đại tràng và có khả năng gây ra các ổ áp xe ở các cơ quan khác nhất là gan và não. Bệnh có xu hướng kéo dài và mạn tính nếu không được điều trị tích cực. Mầm bệnh là đơn bào Entamoeba histolytica. Chu kỳ sống chia làm hai thời kỳ bao gồm thời kỳ hoạt động và thời kỳ nghỉ (kén), hai thể này có thể chuyển đổi cho nhau tùy thuộc vào điều kiện dinh dưỡng của vật chủ.

      Nguồn mang mầm bệnh là người bệnh (ở thể cấp hoặc mạn) và người lành mang trùng thải kén theo phân vào môi trường gây ô nhiễm thực phẩm và nguồn nước.

      Lây qua đường tiêu hóa do thức ăn hoặc nước uống nhiễm phải kén amíp. Kén amíp tồn tại tương đối tốtở nhiệt độ 17 – 20 độ C, chúng tồn tại hàng tháng, tuy nhiên nhanh chóng bị diệt ở nhiệt độ cao ( > 85 độ C trở lên).

     Khi vào cơ thể sẽ gây ra các tổn thương  (lỵ amip) hoặc các tổn thương ngoài ruột như gan, não, da... Người ta thấy rằng hầu hết các trường hợp nhiễm amip đều không có triệu chứng, vì vậy người bệnh thường ít khi tự phát hiện mình bị bệnh, nên bệnh có xu hướng chuyển thành mạn tính và kéo dài, khiến việc điều trị gặp không ít khó khăn. Do đó việc dùng thuốc điều trị bệnh do amip như thế nào cho hiệu quả?

     Viêm đại tràng do amip có triệu chứng  từ 2-6 tuần sau khi ăn phải kén lây nhiễm. Đau bụng dưới và tiêu chảy là triệu chứng có sớm, sau đó thì mệt mỏi và chán ăn, đau quặn bụng từng cơn ở vùng hố chậu phải (vùng hồi manh tràng), nếu bệnh kéo dài có thể đau cả hố chậu phải do tổn thương đại trực tràng; mót rặn và đi ngoài giả (mót đi ngoài nhưng không đi ngoài được) đau lan tỏa bụng dưới hoặc ra sau lưng. Trong thời kỳ toàn phát, người bệnh có thể đi đại tiện từ 10-15 lần/ngày, có cảm giác mót rặn muốn đi đại tiện mãi. Phân chủ yếu là máu và nhầy nhớt. Bệnh nhân bị lỵ amip thường không sốt, đây là điểm để phân biệt với lỵ trực khuẩn (shigella) thường sốt nhiều, sốt cao.

       Diễn tiến của đợt cấp tính kéo dài từ vài ngày đến vài tuần tùy theo việc điều trị được tiến hành sớm hay muộn. Bệnh lỵ amip dễ bị tái nhiễm và tiến triển thành mạn tính.

      Viêm đại tràng mạn tính do amip thường dai dẳng với những biểu hiện đau bụng, phân sệt, bóng, cứ vài tuần hoặc vài tháng lại xảy ra một đợt cấp tính. Trong các trường hợp đau bụng, đi ngoài phân có nhầy nhớt và có máu, nhất thiết người bệnh phải vào nằm viện để được theo dõi và điều trị kịp thời. Người bệnh sẽ được soi phân tươi (soi phân vừa mới đi ngoài xong) để tìm amip dạng hoạt động trong phân, đây là cách để chẩn đoán xác định. Ngoài ra còn có thể nội soi đại tràng hoặc Xquang đại tràng, hay xét nghiệm máu để tìm nguyên nhân gây bệnh.

  1.   Bệnh do amíp có biến chứng nào có thể xảy ra?

       Lỵ amíp nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, hợp lý, có rất nhiều biến chứng có thể xảy ra.

      Viêm phúc mạc do thủng ruột: là biến chứng nguy hiểm và khó chẩn đoán vì thường diễn ra từ từ và không điển hình.

     U amíp đại tràng: kích thước u đôi khi lớn gây hẹp hoặc tắc lưu thông đại tràng, tuy nhiêm khi điều trị đặc hiệu diệt amíp thì u amíp cũng giảm nhanh và mất đi.

    Políp đại tràng

    Sa niêm mạc trực tràng.

     Ngoài ra còn có thể gây ra áp xe gan, áp xe phổi, áp xe não tùy theo tình trạng di chuyển của míp.

3. Những thuốc thường được sử dụng trong điều trị  Bệnh do amíp

       - Emetin: đây là alkaloid chiết xuất từ cây Ipeca. Thuốc có nhiều độc tính và tích tụ trong cơ thể gây độc tính ở tim, thận, hệ thần kinh nên hiện nay ít dùng và được thay thế bằng dẫn chất tổng hợp là dehydroemetin ít độc hơn. Thuốc có tác dụng cản trở không hồi phục quá trình tổng hợp protein của amíp. Không dùng thuốc cho phụ nữ có thai.

     - Nhóm Imidazole ( Metronidazole, Tinidazole, Ornidazole): Thuốc khuếch tán, thâm nhập sâu vào bên trong và phá huỷ hay ức chế sự tổng hợp AND cảu ký sinh trùng. Loại thuốc này có ưu điểm diệt được cả thể kén và thể đơn bào amip, nhưng khi dùng thuốc kéo dài cần lưu ý vì có thể gặp tác dụng phụ như chóng mặt, buồn nôn, nôn, đau vùng thượng vị, nổi mày đay... các dấu hiệu này thường nhẹ và hết sau khi cơ thể đào thải hết. Đặc biệt đối với bệnh nhân có tiền sử rối loạn huyết động học khi sử dụng dài ngày loại thuốc này nhất thiết phải được theo dõi công thức bạch cầu. Thuốc này không được dùng cho phụ nữ có thai 3 tháng đầu hoặc trong thời kỳ cho con bú.

      - Nhóm di-iodohydroxyquinolin: là những thuốc trị amíp bằng cách tiếp xúc. Không nên dùng phối hợp các thuốc nhóm này với nhau hay dùng liều cao liên tục    thuốc gây viêm tuỷ  bán cấp, viêm dây thần kinh ngoại  biên và tổn  thương thị  giác . Thuốc này không dùng cho phụ nữ có thai, trẻ còn bú, bệnh nhân cường giáp. Tác dụng phụ có thể gặp là buồn nôn, đau dạ dày, dị ứng da, có thể gây rối loạn chức năng tuyến giáp.

       Ngoài ra trong dân gian còn dùng một số thuốc đông y như hạt và vỏ của cây mộc hoa trắng, thừng mực lá to, sừng trâu, vỏ cây hậu phác, chiêu liêu, hoàng cầm…trong điều trị bệnh lỵ do amíp.

     Để điều trị bệnh do amip đạt hiệu quả cao, việc chọn lựa loại thuốc gì, hàm lượng cụ thể như thế nào nhất thiết phải do thầy thuốc chỉ định cụ thể, người bệnh không được tự ý dùng thuốc để tránh những tác dụng không mong muốn của các loại thuốc diệt amip. Phòng bệnh chủ yếu là ăn chín uống sôi, Rửa rau nhiều nước và kỹ dưới vòi nước chảy, Rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, nên cắt móng tay ngắn, và không dùng phân tươi bón cho các loại rau.

Bên cạnh các dịch vụ khác, Trung tâm tư vấn, nghiên cứu và đào tạo của Tiến sỹ Nguyễn Bạch Đằng (Center for consultation, research and training of Dr. Nguyen Bach Dang - CRTD) còn cung cấp thêm dịch vụ tư vấn khám sức khỏe định kỳ qua điện thoại với số điện thoại hỗ trợ là 0901348669 do Tiến sỹ, Bác sỹ Nguyễn Bạch Đằng trực tiếp tư vấn. Chi tiết các bước xem tại đây.

benhhoctieuhoa.com

Last modified on Thứ hai, 30 Tháng 3 2020 08:48
Rate this item
(0 votes)

Mẹo vặt cuộc sống

Đọc tiếp

Tư vấn

Bệnh trẻ em